Luật Doanh nghiệp năm 2014 kế thừa tính chất là luật chung áp dụng đối với mọi loại hình doanh
    nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế của Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật doanh nghiệp quy định về
    việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp, bao
    gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân; quy
    định về nhóm công ty.

    Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp được quy định tại
    Luật này; bảo đảm bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu
    và thành phần kinh tế; thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh. Nhà nước công
    nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của
    doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp. Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ
    sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.

    2. Đối tượng áp dụng

    Đối tượng áp dụng Luật là các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, bao gồm: công ty trách
    nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân và các cơ quan, tổ chức, cá
    nhân có liên quan đến việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các doanh nghiệp.

    3. Doanh nghiệp xã hội

    Quy định về doanh nghiệp xã hội là nội dung hoàn toàn mới của Luật Doanh nghiệp năm 2014, là một
    điểm sáng phù hợp với nhu cầu phát triển và thực hiện những nhiệm vụ xã hội của một số mô hình
    doanh nghiệp.

    Doanh nghiệp xã hội phải đáp ứng các tiêu chí sau đây:

    - Là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp;

    - Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng;

    - Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục
    tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký.

    Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp xã hội.

    4. Các hành vi bị cấm

    Để ngăn chặn những hành vi bất hợp pháp, lợi dụng việc thành lập doanh nghiệp để thực hiện hành vi
    lừa đảo trong kinh doanh,  Luật Doanh nghiệp 2014 quy định cấm các hành vi sau:

    - Cấp hoặc từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, yêu cầu người thành lập doanh nghiệp
    nộp thêm giấy tờ khác trái với quy định của Luật này; gây chậm trễ, phiền hà, cản trở, sách nhiễu người
    thành lập doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    - Ngăn cản chủ sở hữu, thành viên, cổ đông của doanh nghiệp thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy
    định của Luật này và Điều lệ công ty.

    - Hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không đăng ký hoặc tiếp tục kinh doanh khi
    đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

    - Kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và nội dung hồ sơ
    đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp.

    - Kê khai khống vốn điều lệ, không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký; cố ý định giá tài sản góp vốn
    không đúng giá trị.

    - Kinh doanh các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh; kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có
    điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư hoặc không bảo đảm duy
    trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động.

    - Rửa tiền, lừa đảo.

    5. Con dấu của doanh nghiệp

    Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã có thay đổi quan trọng về con dấu doanh nghiệp theo đó doanh
    nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp. Nội dung
    con dấu phải thể hiện những thông tin sau đây: Tên doanh nghiệp; Mã số doanh nghiệp. Trước khi sử
    dụng, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải
    công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Việc quản lý, sử dụng và lưu giữ con
    dấu thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty. Con dấu được sử dụng trong các trường hợp theo quy
    định của pháp luật hoặc các bên giao dịch có thỏa thuận về việc sử dụng dấu.

    6. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

    Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các
    quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách
    nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và
    nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã cho phép các loại hình công ty có thể có nhiều người đại diện theo
    pháp luật nhằm tạo thuận lợi cho công ty trong quá trình tham gia vào giao kết hợp đồng. Công ty trách
    nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công
    ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật
    của doanh nghiệp.

    Doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam.
    Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam
    và phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo
    pháp luật khi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Trường hợp này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu
    trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền.

    7. Công ty trách nhiệm hữu hạn

    Công ty trách nhiệm hữu hạn được chia làm hai loại, bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai
    thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Loại công ty trách nhiệm hữu hạn
    một thành viên được chia làm hai loại, bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là tổ chức
    và loại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân.

    7.1. Về bản chất pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn  

    Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó:

    - Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50;

    - Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi
    số vốn đã góp vào doanh nghiệp, trừ trường hợp quy định pháp luật;

    - Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại Luật doanh nghiệp.

    - Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy
    chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

    - Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phần.

    Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ
    sở hữu; chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong
    phạm vi số vốn điều lệ của công ty.

    Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng
    nhận đăng ký kinh doanh.

    Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần.

    8. Công ty cổ phần

    8.1. Bản chất pháp lý của công ty cổ phần

    Theo quy định tại Điều 110 của Luật doanh nghiệp năm 2014 thì công ty cổ phần là doanh nghiệp trong
    đó:

    Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;

    Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối
    đa;

    Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong
    phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

    Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy
    định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này.

    Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh
    nghiệp.

    Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn.

    8.2. Quy chế pháp lý về vốn trong công ty cổ phần

    Vốn điều lệ công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán các loại. Vốn điều lệ của công ty cổ
    phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được
    đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty.

    Cổ phần đã bán là số cổ phần được quyền chào bán đã được các cổ đông thanh toán đủ cho công ty. Tại
    thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp, cổ phần đã bán là tổng số cổ phần các loại đã được đăng ký
    mua.

    Cổ phần được quyền chào bán của công ty cổ phần là tổng số cổ phần các loại mà Đại hội đồng cổ đông
    quyết định sẽ chào bán để huy động vốn. Số cổ phần được quyền chào bán của công ty cổ phần tại thời
    điểm đăng ký doanh nghiệp là tổng số cổ phần các loại mà công ty sẽ bán để huy động vốn, bao gồm cổ
    phần đã được đăng ký mua và cổ phần chưa được đăng ký mua.

    Cổ phần chưa bán là cổ phần được quyền chào bán và chưa được thanh toán. Tại thời điểm đăng ký
    thành lập doanh nghiệp, cổ phần chưa bán là tổng số cổ phần mà chưa được các cổ đông đăng ký mua.
    Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông. Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông.
    Ngoài cổ phần phổ thông, công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi. Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là
    cổ đông ưu đãi. Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây: Cổ phần ưu đãi biểu quyết; cổ phần ưu đãi cổ tức;
    cổ phần ưu đãi hoàn lại; cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định.

    Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận
    quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó.

    Chào bán cổ phần là việc công ty tăng thêm số lượng cổ phần được quyền chào bán và bán các cổ phần
    đó trong quá trình hoạt động để tăng vốn điều lệ. Chào bán cổ phần có thể thực hiện theo một trong các
    hình thức sau đây: Chào bán cho các cổ đông hiện hữu; chào bán ra công chúng; chào bán cổ phần
    riêng lẻ. Chào bán cổ phần ra công chúng, chào bán cổ phần của công ty cổ phần niêm yết và đại chúng
    thực hiện theo các quy định của pháp luật về chứng khoán.

    8.3. Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần

    Công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây:

    Mô hình 1: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
    Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ
    phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát;

    Mô hình 2: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp này ít
    nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực
    thuộc Hội đồng quản trị. Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm
    soát đối với việc quản lý điều hành công ty. Đây là mô hình mới được ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp
    năm 2014.

    Trường hợp chỉ có một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc
    hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty; trường hợp Điều lệ không có quy định
    khác thì Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của công ty. Trường hợp có hơn
    một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc
    đương nhiên là người đại diện theo pháp luật của công ty.

    Đại hội đồng cổ đông

    Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công
    ty cổ phần. Đại hội đồng cổ đông họp thường niên mỗi năm một lần. Ngoài cuộc họp thường niên, Đại
    hội đồng cổ đông có thể họp bất thường. Địa điểm họp Đại hội đồng cổ đông phải ở trên lãnh thổ Việt
    Nam. Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định cụ thể về thẩm quyền triệu tập; danh sách cổ đông có
    quyền dự họp; chương trình, nội dung cuộc họp; thủ tục mời dự cuộc họp; điều kiện tiến hành cuộc
    họp; thể thức tiến hành và biểu quyết tại cuộc họp; nghị quyết và biên bản cuộc họp.

    Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần

    Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện
    các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Hội đồng quản trị
    có từ 03 đến 11 thành viên. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng thành viên Hội đồng quản trị.
    Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên độc lập Hội đồng quản trị không quá 05 năm và
    có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế. Số lượng, thời hạn cụ thể của nhiệm kỳ, số thành
    viên Hội đồng quản trị phải thường trú ở Việt Nam do Điều lệ công ty quy định.

    Thành viên Hội đồng quản trị phải đáp ứng những yêu cầu theo quy định của pháp luật và tại điều l
    công ty. Đối với thành viên Hội đồng quản trị độc lập phải đáp ứng một số các điều kiện khác, như sau:

    Không phải là người đang làm việc cho công ty, công ty con của công ty; không phải là người đã
    từng làm việc cho công ty, công ty con của công ty ít nhất trong 03 năm liền trước đó.

    Không phải là người đang hưởng lương, thù lao từ công ty, trừ các khoản phụ cấp mà thành viên
    Hội đồng quản trị được hưởng theo quy định;

    Không phải là người có vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh
    ruột, chị ruột, em ruột là cổ đông lớn của công ty; là người quản lý của công ty hoặc công ty con
    của công ty;

    Không phải là người trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 1% tổng số cổ phần có quyền biểu
    quyết của công ty;

    Không phải là người đã từng làm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát của công ty ít nhất
    trong 05 năm liền trước đó.

    Chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ được bầu trong cuộc họp đầu tiên của nhiệm kỳ Hội đồng quản trị trong
    thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc bầu cử Hội đồng quản trị nhiệm kỳ đó. Cuộc họp này do
    thành viên có số phiếu bầu cao nhất hoặc tỷ lệ phiếu bầu cao nhất triệu tập và chủ trì. Trường hợp có
    nhiều hơn một thành viên có số phiếu bầu hoặc tỷ lệ phiếu bầu cao nhất và ngang nhau thì các thành
    viên bầu theo nguyên tắc đa số để chọn 01 người trong số họ triệu tập họp Hội đồng quản trị. Hội đồng
    quản trị có thể họp định kỳ hoặc bất thường. Hội đồng quản trị họp tại trụ sở chính của công ty hoặc ở
    nơi khác. Cuộc họp của Hội đồng quản trị do Chủ tịch Hội đồng quản trị triệu tập khi xét thấy cần thiết,
    nhưng mỗi quý phải họp ít nhất một lần.

    Giám đốc, Tổng giám đốc

    Hội đồng quản trị bổ nhiệm một người trong số họ hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổng giám
    đốc. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty; chịu
    sự giám sát của Hội đồng quản trị; chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về việc
    thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao. Nhiệm kỳ của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không quá 05
    năm; có thể được bổ nhiệm lại với số nhiệm kỳ không hạn chế. Tiêu chuẩn và điều kiện của Giám đốc
    hoặc Tổng giám đốc áp dụng theo quy định pháp luật và điều lệ công ty.

    Ban kiểm soát

    Ban kiểm soát có từ 03 đến 05 thành viên, nhiệm kỳ của Kiểm soát viên không quá 05 năm và Kiểm soát
    viên có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế. Các Kiểm soát viên bầu một người trong số họ
    làm Trưởng Ban kiểm soát theo nguyên tắc đa số. Quyền và nghĩa vụ của Trưởng Ban kiểm soát do Điều
    lệ công ty quy định. Ban kiểm soát phải có hơn một nửa số thành viên thường trú ở Việt Nam. Trưởng
    Ban kiểm soát phải là kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp và phải làm việc chuyên trách tại
    công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định tiêu chuẩn khác cao hơn.
    Quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát được quy định cụ thể tại Điều 165 Luật Doanh nghiệp năm 2014:
    Ban kiểm soát thực hiện giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong việc quản lý và
    điều hành công ty; Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý,
    điều hành hoạt động kinh doanh; tính hệ thống, nhất quán và phù hợp của công tác kế toán, thống kê và
    lập báo cáo tài chính; v.v..

    Một số nội dung cũng được quy định mới trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 như: Công khai các lợi ích
    liên quan (Điều 159); trách nhiệm của người quản lý công ty (Điều 160); quyền khởi kiện đối với thành
    viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc (Điều 161).

    9. Công ty hợp danh

    Bản chất pháp lý của công ty hợp danh

    Theo quy định tại Điều 172 của Luật doanh nghiệp năm 2014 thì công ty hợp danh là doanh nghiệp,
    trong đó:

    Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một
    tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành
    viên góp vốn;

    Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa
    vụ của công ty;

    Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã
    góp vào công ty.

    Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

    Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.

    Quy chế thành viên hợp danh trong công ty hợp danh

    Thành viên hợp danh có quyền điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, có quyền và trách nhiệm
    chặt chẽ với công ty. Thành viên hợp danh công ty hợp danh có một số hạn chế:

    Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của
    công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại.

    Thành viên hợp danh không được quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác thực
    hiện kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty đó để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ
    chức, cá nhân khác.

    Thành viên hợp danh không được quyền chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình
    tại công ty cho người khác nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại.

    Cơ cấu tổ chức công ty hợp danh

    Mô hình quản lý công ty hợp danh bao gồm: Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám
    đốc (Tổng giám đốc). Chủ tịch Hội đồng thành viên có thể kiểm Giám đốc (Tổng giám đốc) nếu Điều lệ
    công ty không có quy định khác.

    10. Doanh nghiệp tư nhân

    Bản chất pháp lý của Doanh nghiệp tư nhân

    Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài
    sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

    Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.

    Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân không
    được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh.

    Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong
    công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.

    Vốn đầu tư và quyền quản lý của chủ doanh nghiệp tư nhân

    Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký. Chủ doanh nghiệp tư nhân
    có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng Đồng Việt Nam, ngoại tệ
    tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác; đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số
    lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản. Toàn bộ vốn và tài sản kể cả vốn vay và tài sản thuê được sử
    dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo
    tài chính của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp
    tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh
    nghiệp, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy
    định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành
    hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp thì vẫn phải
    chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên
    đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Tòa án trong các tranh
    chấp liên quan đến doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh
    nghiệp.

    Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể cho thuê, bán doanh nghiệp tư nhân.