1. Phạm vi điều chỉnh và nguyên tắc áp dụng

    Luật Đầu tư xác định rõ mối quan hệ cũng như nguyên tắc áp dụng Luật Đầu tư và các luật
    liên quan. Theo Điều 4 Luật Đầu tư năm 2014: “Hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam phải
    tuân thủ quy định của Luật này và luật khác có liên quan. Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật
    này và luật khác về ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, trình
    tự, thủ tục đầu tư thì thực hiện theo quy định của Luật này, trừ trình tự, thủ tục đầu tư kinh doanh theo
    quy định tại Luật chứng khoán, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật dầu khí.”

    Như vậy, theo quy định nêu trên, các hoạt động đầu tư chứng khoán, đầu tư thành lập tổ chức tín dụng,
    bảo hiểm thực hiện theo quy định tương ứng của Luật chứng khoán, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh
    doanh bảo hiểm, Luật dầu khí. Những vấn đề chưa được quy định trong các Luật nêu trên thì
    áp dụng theo quy định chung của Luật Đầu (như chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, bảo đảm đầu tư...).

    Bên cạnh đó, những nội dung cụ thể của Luật Đầu tư năm 2014 đã phân định rõ mối quan hệ giữa Luật
    Đầu tư với các luật liên quan khác nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật;
      
    2. Áp dụng Luật đầu tư, điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán đầu tư quốc tế
    Những nguyên tắc chung

Luật Đầu tư đã chuẩn xác lại khái niệm đầu tư, dự án đầu tư, dự án đầu tư mới, dự án đầu tư mở
rộng và các khái niệm về khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, trên cơ sở luật hóa quy định
tương ứng trong các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật, đồng thời bãi bỏ một số khái niệm không
còn thích hợp, trùng lặp với quy định của luật khác hoặc không cần thiết để điều chỉnh một số nội
dung của Luật (như khái niệm vốn nhà nước, chủ đầu tư, đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài, đầu
tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp...).

Mặt khác, nhằm tạo cơ sở pháp lý áp dụng điều kiện đầu tư và thủ tục đầu tư đối với nhà đầu tư
nước ngoài, Luật đã sửa đổi khái niệm nhà đầu tư nước ngoài (Khoản 13 Điều 3) theo hướng thiết
kế quy định này trên cơ sở quốc tịch, nơi đăng ký thành lập của cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng
như tỷ lệ sở hữu, mức độ tham gia quản lý của tổ chức, cá nhân nước ngoài trong tổ chức kinh tế đã
thành lập tại Việt Nam.

Nhằm hoàn thiện chính sách đầu tư theo hình thức đối tác công- tư (PPP) phù hợp với
thông lệ quốc tế, Luật Đầu tư năm 2014 thay thế khái niệm về hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp
đồng BT bằng khái niệm chung nhất về hợp đồng đầu tư theo hình thức PPP. Theo đó, hợp đồng
PPP gồm hợp đồng BOT, BTO, BT, và các hình thức hợp đồng khác được ký kết giữa Cơ quan nhà
nước có thẩm quyền và nhà đầu tư.

    3. Bảo đảm về đầu tư

    Những quy định về bảo đảm đầu tư theo Luật Đầu tư hiện hành được các nhà đầu tư đánh giá về cơ bản
    phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như các cam kết quốc tế về đầu tư của Việt Nam tại thời điểm ban hành
    Luật Đầu tư. Tuy nhiên, để tiếp tục hoàn thiện chính sách bảo đảm đầu tư phù hợp với cam kết quốc tế về
    bảo hộ đầu tư mà Việt Nam đã thỏa thuận trong thời gian qua, Bên cạnh những biện pháp bảo hộ cơ bản
    như Bảo đảm quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư (Điều 9), Bảo đảm chuyển tài sản của nhà đầu tư nước
    ngoài ra nước ngoài (Điều 11), Bảo đảm giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh (Điều
    14), Luật Đầu tư đã quy định một số nội mới cụ thể như sau:

    Bổ sung cam kết của nhà nước trong việc đối xử không phân biệt giữa các nhà đầu tư nước ngoài
    (nguyên tắc đối xử tối huệ quốc) phù hợp với điều kiện và lộ trình quy định tại các điều ước quốc tế
    mà Việt Nam là thành viên (Khoản 1 Điều 10). Quy định này nhằm cụ thể hóa cam kết của Việt Nam
    về đối xử tối huệ quốc theo các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư.  

    Bổ sung nguyên tắc không hồi tố về điều kiện đầu tư trong trường hợp pháp luật, chính sách thay
    đổi làm ảnh hưởng bất lợi đến điều kiện đầu tư đã được quy định tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu
    tư (Khoản 1 Điều 13). Việc bổ sung quy định này nhằm bảo đảm để Việt Nam thực hiện đầy đủ cam
    kết trong WTO về việc không hồi tố các điều kiện đầu tư  (phạm vi hoạt động, tỷ lệ sở hữu của nhà
    đầu tư nước ngoài

    Nguyên tắc không hồi tố là biện pháp bảo đảm đầu tư quan trọng, góp phần tạo môi trường đầu tư an
    toàn, tin cậy cho nhà đầu tư, nhất là trong bối cảnh hệ thống pháp luật đầu tư đang trong quá trình hoàn
    thiện, có nhiều thay đổi gây xáo trộn hoạt động đầu tư của nhà đầu tư. Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên
    tắc này có liên quan đến thẩm quyền ban hành, điều chỉnh pháp luật. Do vậy, để bảo đảm tính khả thi của
    Luật và có thời gian hoàn thiện quy định về vấn đề này trên sở tổng kết, rút kinh nghiệm trong quá
    trình thực hiện, Luật Đầu tư năm 2014 giao Chính phủ quy định chi tiết điều kiện, thủ tục thực hiện.

    Ngoài ra, để phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như cam kết của Việt Nam theo các Hiệp
    định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, Điều 14 Luật Đầu tư năm 2014 đã bổ sung Khoản 4 về giải quyết
    tranh chấp trong hoạt động đầu tư. Theo đó, việc giải quyết tranh chấp giữa cơ quan nhà nước và nhà đầu
    thông qua trọng tài chỉ được thực hiện trong trường hợp có thỏa thuận trọng tài theo hợp đồng giữa
    các bên tranh chấp hoặc theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

    4. Hình thức đầu tư

    Về đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế (Khoản 1 Điều 22)
           
    Nhằm xóa bỏ một số hạn chế, phân biệt đối xử đối với nhà đầu tư nước ngoài trong việc thành lập doanh
    nghiệp và thực hiện hoạt động đầu tư, góp phần tạo mặt bằng pháp lý thống nhất về quyền thực hiện hoạt
    động đầu tư của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, Luật Đầu tư năm 2014 đã quy định một
    số nội dung sau:

    Nhà đầu tư trong nước và nước ngoài được thành lập tổ chức kinh tế phù hợp với tất cả loại hình tổ
    chức kinh tế. . Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực
    hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (Khoản 1 Điều 22).  

    Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ với mức không hạn chế trong doanh nghiệp Việt
    Nam, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy
    định khác.        

    Như vậy, theo các quy định nêu trên, trừ  một số hạn chế về tỷ lệ  vốn góp  phạm vi hoạt động theo quy
    định của pháp luật và điều ước quốc tế, nhà đầu tư nước ngoài đã được đối xử bình đẳng với nhà đầu tư
    trong nước về quyền thực hiện hoạt động đầu tư.

    Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua lại phần vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp (Điều 25, Điều 26)

    Luật Đầu tư năm 2014 sửa đổi bổ sung quy định về vấn đề này theo hướng khẳng định quyền
    của nhà đầu tư trong việc góp vốn, mua lại phần vốn góp, mua cổ phần của doanh nghiệp phù hợp với
    quy định của Luật Doanh nghiệp và trên cơ sở đáp ứng các điều kiện, thủ tục được quy định cụ thể tại
    Luật này. Doanh nghiệp nhận vốn góp hoặc bán cổ phần, phần vốn góp cho nhà đầu tư nước ngoài thực
    hiện thủ tục đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

    Luật Đầu tư năm 2014 cũng quy định cụ thể trường hợp phải thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ
    phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế, cụ thể:

    Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế hoạt động trong
    ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài;

    Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có tỷ lệ sở
    hữu của nhà đầu tư nước ngoài trên 51%, nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên của tổ chức kinh tế.

    Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP

    Luật Đầu tư năm 2014 bổ sung quy định về đầu tư theo hình thức Hợp đồng PPP phù hợp với chủ trương
    thu hút các nguồn vốn đầu tư tư nhân để phát triển các công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ
    công (Điều 27). Theo đó, nhà đầu tư ký kết Hợp đồng PPP với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xây
    dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp
    dịch vụ công.

    Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC

    Luật Đầu tư năm 2014 kế thừa những quy định của Luật Đầu tư năm 2005 về hình thức đầu tư theo hợp
    đồng hợp tác kinh doanh BCC. Hợp đồng BCC được ký kết giữa các nhà đầu tư trong nước thực hiện theo
    quy định của pháp luật về dân sự. Hợp đồng BCC được ký kết giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư
    nước ngoài hoặc giữa các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
    Các bên tham gia hợp đồng BCC thành lập ban điều phối để thực hiện hợp đồng BCC. Chức
    năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ban điều phối do các bên thỏa thuận.  


    5. Thủ tục đăng ký đầu tư, thẩm tra dự án đầu tư

    Do tính chất và quy mô khác nhau, cũng như để giảm bớt các thủ tục hành chính không cần thiết, hạn chế
    tiêu cực trong làm  thủ tục đăng ký đầu tư, Luật đã quy định theo hướng tách riêng giữa thủ tục đăng ký
    đầu tư đối với dự án đầu tư trong nước và thủ tục đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư nước ngoài, cũng
    như nội dung đăng ký đầu tư; trong đó quy định rất cụ thể và chi tiết loại dự án nào không phải
    đăng và loại dự án nào phải làm thủ tục đăng ký... được thể hiện cụ thể như sau:

    5.1. Thủ tục quyết định chủ trương đầu tư (Mục 2- Chương IV)

    Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án đầu tư sau đây:

    Dự án ảnh hưởng lớn đến môi trường hoặc tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi
    trường, bao gồm: Nhà máy điện hạt nhân; Chuyển mục đích sử dụng đất vườn quốc gia, khu bảo tồn
    thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học từ 50 héc ta trở lên;
    rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50 héc ta trở lên; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng, lấn
    biển, bảo vệ môi trường từ 500 héc ta trở lên; rừng sản xuất từ 1.000 héc ta trở lên;

    Sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa nước từ hai vụ trở lên với quy mô từ
    500 héc ta trở lên;

    Di dân tái định cư từ 20.000 người trở lên ở miền núi, từ 50.000 người trở lên ở các vùng khác;

    Dự án có yêu cầu phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cần được Quốc hội quyết định.

    Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án sau đây:

    Dự án không phân biệt nguồn vốn thuộc một trong các trường hợp sau: Di dân tái định từ 10.000
    người trở lên miền núi, từ 20.000 người trở lên ở vùng khác; Xây dựng và kinh doanh cảng hàng không;
    vận tải hàng không; Xây dựng kinh doanh cảng biển quốc gia; Thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí;
    Hoạt động kinh doanh cược, đặt cược, casino; Sản xuất thuốc lá điếu; Phát triển kết cấu hạ tầng khu
    công nghiệp, khu chế xuất, khu chức năng trong khu kinh tế; Xây dựng và kinh doanh sân gôn;

    Dự án không thuộc trường hợp trên có quy mô vốn đầu tư từ 5.000 tỷ đồng trở lên;

    Dự án của nhà đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực kinh doanh vận tải biển, kinh doanh dịch vụ viễn
    thông có hạ tầng mạng, trồng rừng, xuất bản, báo chí, thành lập tổ chức khoa học và công nghệ, doanh
    nghiệp khoa học và công nghệ 100% vốn nước ngoài;

    Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án sau đây:

    Dự án được Nhà nước giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá, đấu thầu hoặc nhận chuyển
    nhượng; dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất;

    Dự án có sử dụng công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao theo quy định của pháp luật
    về chuyển giao công nghệ.

    Dự án đầu tư như trên thực hiện tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế phù
    hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt không phải trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
    quyết định chủ trương đầu tư.  

    Luật Đầu tư năm 2014 quy định cụ thể và chi tiết thủ tục và quy trình xin quyết định chủ trương đầu
    của Quốc hội (Điều 35), Thủ tướng Chính phủ (Điều 34), Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Điều 33).

    5.2. Triển khai dự án đầu tư

    Luật Đầu tư năm 2014 quy định cụ thể về việc thực hiện triển khai dự án đầu tư bao gồm:

    Bảo đảm thực hiện dự án đầu tư, nà đầu tư phải ký quỹ để bảo đảm thực hiện dự án được Nhà nước
    giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất với mức 1% đến 3% vốn đầu tư của
    dự án căn cứ vào quy mô, tính chất và tiến độ thực hiện của từng dự án cụ thể.

    Thời hạn hoạt động của dự án đầu tư, thời hạn hoạt động của dự án đầu tư trong khu kinh tế không
    quá 70 năm,  thời hạn hoạt động của dự án đầu tư ngoài khu kinh tế không quá 50 năm. Dự án đầu
    tư thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội
    đặc biệt khó khăn hoặc dự án vốn đầu lớn nhưng thu hồi vốn chậm thì thời hạn dài hơn nhưng
    không quá 70 năm.

    Giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ, nhà
    đầu chịu trách nhiệm bảo đảm chất lượng máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ để thực hiện
    dự án đầu tư theo quy định của pháp luật.

    Chuyển nhượng dự án đầu tư, nhà đầu tư có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án
    đầu tư cho nhà đầu tư khác khi đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật.

    Giãn tiến độ đầu tư,  đối với dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc quyết định chủ
    trương đầu tư, nhà đầu tư phải đề xuất bằng văn bản cho cơ quan đăng ký đầu tư khi giãn tiến độ
    thực hiện vốn đầu tư, tiến độ xây dựng và đưa công trình chính vào hoạt động (nếu có);
    tiến độ thực hiện các mục tiêu hoạt động của dự án đầu tư.

    Tạm ngừng, ngừng hoạt động của dự án đầu tư, nhà đầu tư tạm ngừng hoạt động của dự án đầu tư
    phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký đầu tư. Trường hợp tạm ngừng hoạt động của dự
    án đầu tư do bất khả kháng thì nhà đầu tư được miễn tiền thuê đất trong thời gian tạm ngừng hoạt
    động để khắc phục hậu quả do bất khả kháng gây ra.

    Chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư, dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động trong các trường hợp
    sau đây: Nhà đầu tư quyết định chấm dứt hoạt động của dự án;Theo các điều kiện chấm dứt hoạt
    động được quy định trong hợp đồng, điều lệ doanh nghiệp; Hết thời hạn hoạt động của dự
    án đầu tư và một số trường hợp khác quy định tại Điều 48.

    Thành lập văn phòng điều hành của nhà đầu tư nước ngoài trong hợp đồng BCC, nhà đầu tư nước
    ngoài trong hợp đồng BCC được thành lập văn phòng điều hành tại Việt Nam để thực
    hiện hợp đồng. Địa điểm văn phòng điều hành do nhà đầu tư nước ngoài trong hợp đồng BCC quyết
    định theo yêu cầu thực hiện hợp đồng.

    6. Quy định về hoạt động đầu tư ra nước ngoài

    Luật Đầu tư năm 2014 quy định những hình thức đầu tư ra nước ngoài:

    - Thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư;

    - Thực hiện hợp đồng BCC ở nước ngoài;

    - Mua lại một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của tổ chức kinh tế ở nước ngoài để tham gia quản thực
    hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại nước ngoài;

    - Mua, bán chứng khoán, giấy tờ có giá khác hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định
    chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài;

    - Các hình thức đầu tư khác theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư có thẩm quyền cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài
    trong thời hạn 05 ngày đối với dự án phải xin chủ trương đầu tư và 15 ngày đối với dự án không phải xin
    chủ trương đầu tư.

    Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài bao gồm:

    - Hoạt động đầu tư ra nước ngoài phù hợp với nguyên tắc quy định của pháp luật đầu tư;

    - Hoạt động đầu tư ra nước ngoài không thuộc ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh;

    - Nhà đầu tư có cam kết tự thu xếp ngoại tệ hoặc được tổ chức tín dụng được phép cam kết thu xếp ngoại
    tệ để thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài; trường hợp khoản vốn bằng ngoại tệ chuyển ra nước
    ngoài tương đương 20 tỷ đồng trở lên không thuộc dự án quy định phải xin chủ trương đầu tư thì Bộ
    Kế hoạch và Đầu tư lấy ý kiến bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

    - Có quyết định đầu tư ra nước ngoài;

    - Có văn bản của cơ quan thuế xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của nhà đầu tư tính đến thời
    điểm nộp hồ sơ dự án đầu tư.

    Luật Đầu tư năm 2014 đã bổ sung những quy định chi tiết về triển khai dự án đầu tư ra nước
    ngoài: Mở tài khoản vốn đầu tư ra nước ngoài; chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài; chuyển lợi nhuận về
    nước; sử dụng lợi nhuận để đầu tư ở nước ngoài.